Chào mừng quý vị đến với Tư liệu giáo dục - Nguyễn Hữu Thanh.

Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tư liệu của Thư viện về máy tính của mình.
Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay ô bên phải.
Gốc > Góp ý giùm tôi >

HỒ CHÍ MINH, NHÀ LÝ LUẬN THIÊN TÀI CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM VÀ DÂN TỘC VIỆT NAM

Hoàng Ngọc Vĩnh, ĐHKH Huế

1. Ngày 3/2/1930, khi sáng lập ra Đảng Cộng sản Việt Nam, Nguyễn Ái Quốc chính là người đầu tiên đã chấm dứt sự khủng hoảng đường lối cứu nước kéo dài gần 100 năm của cách mạng Việt Nam (có thể tính từ 1858 đến 1930).

Khi thực dân Pháp nổ súng xâm lược Việt Nam, triều đình phong kiến Việt Nam bạc nhược đã đi từ nhượng bộ này đến nhượng bộ khác, nhục nhã nhất là sự nhượng bộ với thực dân Pháp bởi Hiệp ước Patanôt 1883. Kể từ đây, phong trào yêu nước của dân tộc Việt Nam đã phát triển rầm rộ, rộng khắp cả nước với nhiều khuynh hướng khác nhau, nhưng rốt cục đều thất bại, vì chưa có đường lối cách mạng khoa học đưa cách mạng Việt Nam đi đến thắng lợi.

Giữa lúc cách mạng Việt Nam đang lâm vào bế tắc về đường lối cứu nước, Nguyễn Ái Quốc là người Việt Nam yêu nước đầu tiên tìm ra con đường cứu nước, cứu dân. Sau gần 10 năm bôn ba năm châu, bốn biển, tiến hành khảo sát chủ nghĩa thực dân, đế quốc ở nhiều nước tư bản và các nước thuộc địa của chúng, đặc biệt là thực thi dân chủ tư sản trên đất Pháp, Nguyễn Ái Quốc đã sớm nhận thức được xu hướng phát triển của thời đại.

Qua các tác phẩm của Người: “Bản yêu sách tám điểm - 1919”, “Đường Kách mệnh – 1927”, “Cương lĩnh đầu tiên của Đảng – 1930”, phải thấy rằng, từ một người Việt Nam yêu nước nồng nhiệt, Người đã bắt gặp chủ nghĩa Mác-Lênin và trở thành người Việt Nam Cộng sản đầu tiên, rồi nhanh chóng trở thành một trong các lãnh tụ của Quốc tế Cộng sản. Từ đó Người đã rút ra kết luận: Muốn cứu nước và giải phóng dân tộc không có con đường nào khác con đường cách mạng vô sản. Đó là con đường cách mạng dân chủ tư sản kiểu mới do Lênin vạch ra, đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, nhằm đánh đổ đế quốc và phong kiến tay sai, giành độc lập dân tộc, thực hiện người cày có ruộng, sau đó tiến lên làm cách mạng xã hội chủ nghĩa, thực hiện chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa Cộng sản ở Việt Nam. Đó là đường lối cách mạng giương cao ngọn cờ độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, kết hợp chủ nghĩa yêu nước với chủ nghĩa quốc tế vô sản trong sáng, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại nhằm thực hiện mục tiêu cao cả giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp và giải phóng con người.

2. “Không có gì quý hơn độc lập tự do” là điểm xuất phát và là nội dung lớn nhất của Tư tưởng Hồ Chí Minh.

Từ 1919, trong “Bản yêu sách tám điểm” gửi đến Hội nghị Véc-xây, Hồ Chí Minh chính là người Việt Nam đầu tiên đã thống nhất hai nội dung Độc lập dân tộc và Tự do của nhân dân trong lịch sử Việt Nam.

Dưới ánh sáng “Luận cương về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa” của Lênin và tấm gương cách mạng Tháng Mười Nga, Người đã khẳng định: Chỉ có chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa Cộng sản mới giải phóng được các dân tộc bị áp bức và giai cấp công nhân toàn thế giới. Cách mạng giải phóng dân tộc muốn thắng lợi phải thực hiện được sự liên minh chiến đấu giữa vô sản ở thuộc địa với vô sản ở chính quốc. Cách mạng ở thuộc địa không chỉ trông chờ vào kết quả của cách mạng vô sản ở chính quốc mà phải tiến hành song song với cách mạng ở chính quốc, hơn nữa nó cần phải chủ động và có thể giành thắng lợi trước, và bằng thắng lợi của mình nó có thể đóng góp vào sự nghiệp giải phóng anh em vô sản ở phương Tây.

Đây không chỉ là một luận điểm sáng tạo mà còn là sự phát triển lý luận chủ nghĩa Mác-Lênin về cách mạng giải phóng dân tộc ở thuộc địa của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Nhờ nó, Người đã cùng Đảng ta đề ra và giải quyết đúng đắn nhiều vấn đề về chiến lược và sách lược, lãnh đạo nhân dân đưa cách mạng Việt Nam đến thắng lợi lịch sử Tháng Tám năm 1945. Cuộc cách mạng đã mở ra kỷ nguyên độc lập tự chủ cho dân tộc Việt Nam, và là cuộc cách mạng giành chính quyền nổ ra trong thời gian ngắn nhất, tổn thất nhỏ nhất mà chiến thắng lớn nhất trong lịch sử nhân loại.

Cách mạng Tháng Tám thắng lợi, thay mặt cho toàn dân tộc Việt Nam, Người trịnh trọng tuyên bố với toàn thế giới: “Tất cả các dân tộc sinh ra đều có quyền bình đẳng. Tạo hóa cho họ quyền được mưu cầu tự do sung sướng. Việt Nam đã là một quốc gia độc lập. Tất cả dân tộc Việt Nam, quyết đem tất cả tinh thần, tính mạng, lực lượng và của cải, để quyết giữ gìn độc lập dân tộc ấy”. Trong các lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến, Người tuyên bố: “Miền Nam là máu của máu Việt Nam, là thịt của thịt Việt Nam. Nam, Bắc là một nhà. Sông có thể cạn, núi có thể mòn, song chân lý đó không bao giờ thay đổi”. “Thà hy sinh tất cả chứ nhất định không chịu mất nước, không chịu làm nô lệ”. “Dù có đốt cháy cả dãy Trường Sơn, thì cũng phải quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ xâm lược”. “Cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước có thể kéo dài 5 năm, mười năm, hai mươi năm, hoặc lâu hơn nữa. Hà Nội, Hải Phòng và một số thành phố khác có thể bị tàn phá, thì chúng ta cũng phải quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ xâm lược”. “Không có gì quý hơn độc lập tự do” là chân lý sáng ngời thời đại do Người vạch ra mãi soi sáng cho cách mạng Việt Nam và cách mạng nhân loại.

3. Độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội là nội dung cốt lõi của tư tưởng Hồ Chí Minh.

Người khẳng định: Độc lập dân tộc là điều kiện để xây dựng CNXH, CNXH là nhân tố bảo đảm cho độc lập dân tộc được thực hiện một cách triệt để. Nghĩa là nước được độc lập thì dân cũng phải được hoàn toàn tự do, hạnh phúc, sung sướng.

Nếu trong “Bản yêu sách tám điểm” gửi đến Hội nghị Véc-xây là sự thống nhất giữa độc lập dân tộc với tự do của nhân dân, thì trong “Đường Kách mệnh” và trong “Cương lĩnh đầu tiên của Đảng” là sự thống nhất giữa độc lập dân tộc với CNXH. Và kể từ “Tuyên ngôn độc lập của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa” đến các “Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến” sau này, trong tư tưởng Hồ Chí Minh là sự thống nhất giữa độc lập dân tộc gắn liền với CNXH và quyết tâm cao nhất của dân tộc nhằm giữ vững mục tiêu cao cả ấy.

Tư tưởng về độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội của Người là tổng hợp những quan điểm chiến lược có ý nghĩa chỉ đạo lớn về chính trị và lý luận, về nhận thức và hành động của toàn Đảng, toàn dân ta trong toàn bộ tiến trình cách mạng Việt Nam. Đây là một đóng góp về lý luận vào kho tàng của chủ nghĩa Mác-Lênin, vào lý luận cách mạng xã hội nói chung và cách mạng xã hội chủ nghĩa nói riêng trong thời đại ngày nay.

Tư tưởng Hồ Chí Minh về chủ nghĩa xã hội và con đường quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam chính là chủ nghĩa Mác-Lênin đã Việt Nam hóa bởi Hồ Chí Minh, đã và đang được Đảng ta vận dụng sáng tạo vào sự nghiệp đổi mới hiện nay, nhằm ra sức phát triển kinh tế, văn hoá làm cho dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh, giữ vững độc lập chủ quyền tòan vẹn lãnh thổ, xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội trên đất nước ta, góp phần tích cực vào cuộc đấu tranh chung của nhân dân thế giới vì hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội.

a) Sự phát triển chủ nghĩa Mác-Lênin của Hồ Chí Minh về chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam thể hiện ở các điểm chính sau:

Thứ nhất: Bằng việc đặt ra và trả lời câu hỏi “chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam là gì?”, trên cơ sở tiếp cận chủ nghĩa Mác-Lênin từ các phương diện đạo đức, văn hóa, xã hội,.. tùy vào các đối tượng người Việt Nam khác nhau, các góc độ xem xét và mục đích của mỗi Hội nghị khác nhau, mà Hồ Chí Minh đưa ra nhiều định nghĩa về chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam.

Từ những quan điểm cụ thể khác nhau ấy của Người về chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, có thể khái quát những đặc trưng bản chất của chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam vào những năm 60 của thế kỷ XX theo tư tưởng triết học Hồ Chí Minh là:

 Một: Chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam là một chế độ chính trị mà ở đó mọi quyền làm chủ đều thuộc về nhân dân.

Hai: Chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam là một chế độ xã hội có nền kinh tế phát triển cao, với lực lượng sản xuất tiên tiến hiện đại và khoa học kĩ thuật tiên tiến hiện đại, dần xóa bỏ chế độ chiếm hữu tư nhân về tư liệu sản xuất để tiến tới thực hiện chế độ công hữu đối với tư liệu sản xuất.

Ba: Chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam là giai đoạn xã hội phát triển cao hơn CNTB về văn hóa, đạo đức. 

Bốn: Chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam mới chỉ là một xã hội thực hiện công bằng hợp lý.

Năm: Chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam là công trình tập thể của nhân dân, do nhân dân tự xây dựng đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Các đặc trưng của chủ nghĩa xã hội ấy chứa đựng trong đó một hệ thống các giá trị đặc thù, mà giá trị trung tâm là con người với các nhu cầu lợi ích của nó. Con người là mục tiêu phát triển. Chủ nghĩa xã hội theo Hồ Chí Minh là xã hội của con người, vì con người, chế độ xã hội đó mang bản chất dân chủ, nhân đạo trong tiến trình vận động xã hội loài người.

Thứ hai, khi trả lời cho câu hỏi “Làm gì để có chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam?”, Hồ Chí Minh đã xác định những mục tiêu xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam là:

Một:  phải xây dựng cho được Nhà nước Việt Nam là nhà nước của dân, do dân và vì dân.

Hai: phải xây dựng một nền kinh tế công - nông nghiệp tiên tiến hiện đại, khoa học và kĩ thuật tiên tiến hiện đại, trên cơ sở kinh tế xã hội chủ nghĩa ngày càng phát triển, cách bóc lột theo chủ nghĩa tư bản dần được xóa bỏ, đời sống vật chất và văn hóa của nhân dân ngày càng được cải thiện

Ba: phải xây dựng ngay lập tức và đi trước một bước là nền văn hóa mới XHCN ở Việt Nam.

Bốn: phải thực hiện ngay nguyên tắc “làm tùy sức hưởng theo lao động”, đồng thời thiết lập quỹ phúc lợi công cộng để điều tiết thu nhập cho toàn dân.

Năm: phải lấy của dân, tài dân, sức dân mà làm lợi cho dân.

Thứ ba, khi trả lời cho câu hỏi “Làm gì để có chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam”, Hồ Chí Minh đồng thời đã chỉ ra các động lực phát triển của chủ nghĩa xã hội ở Việt  Nam là:

Một:  Động lực hiểu theo nghĩa rộng trong tư tưởng Hồ Chí Minh là sử dụng đồng bộ các đòn bẩy về kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội,.. kích thích tính tích cực của người lao động. Ở nghĩa rộng, Người nhấn mạnh hai nội dung: Tính đồng bộ trong sử dụng các đòn bẩy và trình độ, năng lực của đội ngũ cán bộ quản lý trong sử dụng đồng bộ các đòn bẩy.

Hai: Động lực hiểu theo nghĩa hẹp trong tư tưởng Hồ Chí Minh là vấn đề con người. Động lực con người với tư cách là con người cộng đồng, Người nhấn mạnh đó là Đại đoàn kết toàn dân tộc. Động lực con người với tư cách là con người cá nhân, Người khẳng định đó là con người mới XHCN ở Việt Nam.

b) Sự phát triển chủ nghĩa Mác-Lênin của Hồ Chí Minh về con đường quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam thể hiện ở những điểm chính sau:

Thứ nhất: Nếu điễn đạt như Mác, Ăngghen và Lênin về thời kỳ quá độ lên CNXH, thì Hồ Chí Minh đã chỉ ra: Việt Nam từ một nước nông nghiệp lạc hậu, thuộc địa và phong kiến tiến thẳng lên chủ nghĩa xã hội không kinh qua phát triển tư bản chủ nghĩa. Người khẳng định tính chất của nó là cuộc đấu tranh một mất một còn giữa CNXH và CNTB ở Việt Nam.

 Tư tưởng này với thực tiễn đưa miền Bắc lên CNXH, Hồ Chí Minh không chỉ trung thành, mà đã phát triển chủ nghĩa Mác-Lênin trong điều kiện Việt Nam, làm cho lý luận quá độ gián tiếp lên CNXH theo hình thức thứ hai của Lênin đầu tiên trở thành hiện thực.

Thứ hai:  Trong điều kiện giáo điều, người ta đã quên lời dạy của Lênin “Không có CNXH giống nhau cho mọi dân tộc, chỉ có CNXH phù hợp với từng dân tộc”, bắt cả thế giới phải tuân thủ một “mô hình CNXH”, Hồ Chí Minh quan niệm chủ nghĩa xã hội có mục tiêu, nguyên lý chung giống nhau, nhưng mỗi nước có đặc điểm lịch sử cụ thể khác nhau nên phương thức, biện pháp, bước đi cách làm khác nhau. Người nhắc nhở, việc học tập những kinh nghiệm nước ngoài  là rất cần thiết. Nhưng Người cũng nhấn mạnh: “Ta không thể giống Liên Xô, vì Liên Xô có phong tục tập quán khác, có lịch sử địa lý khác”[1]. Làm khác, thậm chí làm trái với Liên Xô, ta vẫn là mac-xit.

Tư tưởng này và thực tiễn cách mạng Việt Nam, đã chứng minh sự đúng đắn, khoa học của tư duy độc lập, tự chủ, sáng tạo và đổi mới của Người.

Thứ ba: Hồ Chí Minh là người đầu tiên ở phương Đông chủ trương xây dựng CNXH với nền kinh tế nhiều thành phần. Trong sửa sai cải cách ruộng đất, từ 1955 Người đã chủ trương và quy định cho người nông dân miền Bắc có ruộng 5%. Trong lãnh đạo công cuộc xây dựng CNXH ở miền Bắc ngày ấy, Người thường bàn về kinh tế nhiều thành phần ở nước ta. Điều này cho đến nay đã và đang là một động lực to lớn của công cuộc đổi mới ở Việt Nam.

Thứ tư: Hồ Chí Minh là người đầu tiên trên thế giới chủ trương chia nhỏ thời kỳ quá độ lên CNXH thành nhiều bước đi. Theo Người, quy mô, trình độ, tốc độ của mỗi bước đi phải tùy thuộc vào thành tựu của quá trình CNH, HĐH đất nước ở mỗi thời kỳ.

Thứ năm: Xuất phát từ trình độ rất thấp của Việt Nam, mà Người đã chỉ ra tầm quan trọng to lớn của quyết tâm dân tộc khi thực hiện mục tiêu CNXH. Người từng dạy, làm CNXH ở Việt Nam thì “mục tiêu là một, biện pháp phải mười và quyết tâm phải hai mươi”.

Thứ sáu: Theo Hồ chí Minh muốn xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam phải đảm bảo 4 nguyên tắc:

Một: Phải đảm bảo một cách tuyệt đối sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Hai: Phải nâng cao trình độ, năng lực quản lý nhà nước đối với toàn xã hội.

Ba: Phải mở rộng và tăng cường hoạt động chủ động và tích cực có hiệu quả của các tổ chức chính trị quần chúng.

Bốn: Phải đào tạo đủ đội ngũ cán bộ có đủ đức, đủ tài đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ của lịch sử.

4. Để bảo đảm cho cách mạng Việt Nam đi đến thắng lợi, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Trước hết phải có Đảng cách mệnh... Đảng có vững cách mệnh mới thành công”.

Tư tưởng Hồ Chí Minh về Đảng Cộng sản Việt Nam, đặc biệt trong điều kiện Đảng đã nắm chính quyền (Đảng Cộng sản Việt Nam cầm quyền), là một đóng góp mới vào lý luận xây dựng đảng kiểu mới của giai cấp công nhân.

Để xứng đáng là Đảng lãnh đạo, Người nêu yêu cầu phải xây dựng Đảng ta thành một đảng to lớn, mạnh mẽ, chắc chắn, trong sạch, cách mạng triệt để. Người luôn luôn nhấn mạnh đảng viên phải suốt đời làm người con trung thành của Đảng, người đầy tớ tận tuỵ của nhân dân. Người đòi hỏi Đảng ta một mặt phải ra sức nâng cao trí tuệ cho ngang tầm nhiệm vụ lịch sử, mặt khác phải trau dồi đạo đức cách mạng, không ngừng tăng cường mối liên hệ máu thịt với nhân dân. Đảng chỉ có thể hoàn thành sứ mệnh lịch sử của mình nếu biết tập hợp, đoàn kết các tầng lớp nhân dân trong một mặt trận dân tộc thống nhất rộng rãi chống kẻ thù chung và xây dựng đất nước.

Trong xây dựng Đảng về tư tưởng - lý luận, Người chỉ rõ: “... chỉ có đảng nào theo lý luận cách mạng tiền phong, đảng cách mạng mới làm nổi trách nhiệm cách mạng tiền phong”, “Đảng muốn vững phải có chủ nghĩa làm cốt, trong Đảng ai cũng phải hiểu, ai cũng phải theo chủ nghĩa ấy”, “bây giờ học thuyết nhiều, chủ nghĩa nhiều, nhưng chủ nghĩa chân chính nhất, chắc chắn nhất, cách mạng nhất là chủ nghĩa Lênin”...

Để đạt mục tiêu cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng đã chỉ rõ: phải dựa vào lý luận cách mạng và khoa học của chủ nghĩa Mác-Lênin, phải làm cho chủ nghĩa Mác-Lênin trở thành nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho mọi hành động của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Đảng lấy chủ nghĩa Mác-Lênin làm cốt có nghĩa là Đảng ta nắm vững tinh thần của chủ nghĩa Mác-Lênin, lập trường, quan điểm và phương pháp của chủ nghĩa Mác-Lênin, đồng thời nắm vững tinh hoa văn hoá dân tộc và trí tuệ thời đại vận dụng sáng tạo vào hoàn cảnh cụ thể của nước ta. Không máy móc, kinh viện, giáo điều.

Vì vậy, trong tiếp nhận và vận dụng chủ nghĩa Mác-Lênin, Chủ tịch Hồ Chí Minh lưu ý những điểm sau đây:

- Học tập, nghiên cứu, tuyên truyền chủ nghĩa Mác-Lênin phải luôn phù hợp với hoàn cảnh và từng đối tượng.

- Vận dụng phải phù hợp từng hoàn cảnh.

- Chú ý học tập, kế thừa kinh nghiệm tốt của các Đảng cộng sản khác, tổng kết kinh nghiệm của mình để bổ sung cho chủ nghĩa Mác-Lênin.

- Đảng tăng cường đấu tranh để bảo vệ sự trong sáng của chủ nghĩa Mác-Lênin.

5. “Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết. Thành công, thành công, đại thành công” . Luận điểm nổi tiếng này của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã trở thành tư tưởng chỉ đạo chiến lược xuyên suốt cả quá trình cách mạng Việt Nam.

Tư tưởng đại đoàn kết của Hồ Chí Minh cùng với đạo đức và nhân cách vô cùng cao thượng và trong sáng của Người đã quy tụ được khối đại đoàn kết toàn dân tộc, đấu tranh vì thắng lợi của sự nghiệp cách mạng. Mẫu số chung của đại đoàn kết trong tư tưởng Hồ Chí Minh là ý thức dân tộc và tinh thần yêu nước. Với mẫu số chung này, Người đã đoàn kết được mọi con dân Việt Nam, làm nên sức mạnh to lớn của cách mạng Việt Nam để chiến thắng mọi kẻ thù.

Hồ Chí Minh là người sáng lập Đảng, Mặt trận, Quân đội, đồng thời cũng là người sáng lập Nhà nước Việt nam Dân chủ Cộng hoà, nhà nước của dân, do dân, vì dân. Người luôn luôn coi trọng bản chất giai cấp công nhân của nhà nước, và cũng luôn nhấn mạnh tính dân tộc, tính nhân dân sâu sắc của nhà nước. Là nhà yêu nước vĩ đại, Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng là nhà quốc tế chủ nghĩa trong sáng, hiện thân của tư tưởng về kết hợp sức mạnh dân tộc và sức mạnh thời đại. Người nói: Cách mệnh Việt Nam cũng là một bộ phận trong cách mệnh thế giới. Ai làm cách mệnh trên thế giới đều là đồng chí của dân Việt Nam cả.

Toàn bộ sự nghiệp cách mạng của Người, Hồ Chủ Tịch nhờ kế thừa và phát huy thành công truyền thống quý báu của dân tộc “sử ta dạy cho ta bài học: khi nào dân ta đoàn kết thì độc lập của nước ta được giữ vững, khi nào dân ta không đoàn kết thì độc lập của nước ta có nguy cơ bị xâm phạm”; Người đánh giá đúng, đề cao sức mạnh và phát huy tinh thần quật cường của “nhân dân ta có truyền thống nồng nàn yêu nước, mỗi khi Tổ Quốc bị xâm lăng thì triệu người như một xông lên phía trước, quyết giữ gìn và bảo vệ độc lập dân tộc”, mà luôn thực hiện đường lối cách mạng đại đoàn kết toàn dân, với nguyên tắc “tin dân, dựa vào dân”, khẳng định sức mạnh vô tận, vô địch của dân: “Dễ trăm lần không dân cũng chịu. Khó vạn lần dân liệu cũng qua”, “Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết. Thành công, thành công, đại thành công”; Một trong các cơ sở quân sự của tư tưởng Hồ Chí Minh là lấy dân làm gốc theo phương châm "quân với dân như cá với nước", tất cả sức mạnh đều từ dân mà ra.

Đại đoàn kết dân tộc là một chiến lược cơ bản, lâu dài, trong cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, cũng như trong cách mạng xã hội chủ nghĩa. Tư tưởng đại đoàn kết của Hồ Chí Minh mãi mãi là một sức mạnh làm nên thắng lợi của cách mạng Việt Nam.

6.  Chủ tịch Hồ Chí Minh, là một trong những nguyên thủ quốc gia rất hiếm của thế giới đã quan tâm đến đạo đức một cách toàn diện và cụ thể, hệ thống và chi tiết.

Người chỉ rõ: Đạo đức là cái gốc của người cách mạng. Người cách mạng phải có đạo đức cách mạng làm nền tảng mới hoàn thành được nhiệm vụ cách mạng vẻ vang. Tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh là một thể thống nhất giữa đạo đức với chính trị, đạo đức với tài năng, giữa nói và làm, giữa đạo đức cách mạng và đạo đức đời thường. Tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh là một bộ phận rất quan trọng trong Tư tưởng Hồ Chí Minh, có sức sống mãnh liệt, đã sớm đi vào nhân dân, được nhân dân tiếp nhận. Cùng với tư tưởng đạo đức, tư tưởng nhân văn Hồ Chí Minh là một đóng góp có giá trị vào triết học về con người của chủ nghĩa Mác-Lênin.

Suốt cuộc đời và sự nghiệp cách mạng của mình, vấn đề đạo đức cách mạng luôn được Người quan tâm ở vị trí hàng đầu, với “ham muốn tột bậc là nước phải hoàn toàn được độc lập, dân phải hoàn toàn được tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng phải được học hành”. Đạo đức mà Chủ tịch Hồ Chí Minh quan tâm là đạo đức suốt đời vì hạnh phúc nhân dân.

Người đề ra những chuẩn mực đạo đức cụ thể phù hợp với yêu cầu, nhiệm vụ, trách nhiệm của từng đối tượng người Việt Nam. Với thiếu niên nhi đồng, là năm điều Bác dạy[2]. Với thanh niên là người chủ tương lai của đất nước, Người có sáu lời khuyên[3]. Với quân đội và công an, Người quy định 12 điều kỷ luật, mà đòi hỏi những phẩm chất đạo đức của lực lượng vũ trang là: “Trung với Đảng, hiếu với Dân, sẵn sàng chiến đấu hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ Quốc, vì Chủ nghĩa xã hội. Nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng”[4]. Với đảng viên, Người nhấn mạnh bốn chuẩn mực[5].

            Với cán bộ công chức nhà nước, Người quy định 6 điều nên làm và 6 điều nên tránh để cán bộ công chức Nhà nước phải là công bộc của dân, đầy tớ trung thành của nhân dân. Với giáo viên, Bác dạy phải là tấm gương 4 mặt. Với đội ngũ y, bác sỹ, Bác dạy “lương y như từ mẫu”. v.v.

               Những chuẩn mực đạo đức chung, cơ bản và phổ cập đối với mọi người do Người quy định có thể khái quát lại là: Trung với nước, hiếu với dân; Yêu thương con người; Cần, kiệm, liêm, chính, chí công, vô tư; Tinh thần quốc tế trong sáng, thuỷ chung.

Trong tính cụ thể, chi tiết về những chuẩn mực đạo đức cách mạng, Người quy định đúng cho từng đối tượng người, ngành nghề, giới tính, lứa tuổi, và những chuẩn mực chung có ý nghĩa cơ bản mang tính phổ cập của đạo đức con người mới xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam được Hồ Chí Minh quy định còn thể hiện cả trên ba bình diện với mình, với người và với công việc: Với tự mình phải rất nghiêm khắc; Với người phải thật sự khoan dung, độ lượng; Với công việc phải tận tâm, tận lực.

Trước Cách mạng Tháng Tám, chuẩn mực đạo đức được Người đặt lên hàng đầu là vì độc lập của Tổ Quốc. Sau Cách mạng Tháng Tám, mối quan tâm hàng đầu về chuẩn mực đạo đức của Người là liêm chính chí công vô tư, chăm lo cung phụng lợi ích của nhân dân.

Người quy định 12 tư cách của Đảng chân chính cách mạng và căn dặn: “Muốn cho Đảng được vững bền, Mười hai điều đó chớ quên điều nào”[6]. Về đạo đức cách mạng của Đảng chân chính, Người viết: “Lòng mình chỉ biết vì Đảng, vì Tổ quốc, vì đồng bào thì mình sẽ tiến đến chỗ chí công vô tư[7]. Người cũng quy định 6 điều về tư cách và 6 điều về bổn phận của đảng viên[8]. Ở đó, Người nhắc nhở, phải luôn là kiểu mẫu cho quần chúng trong mọi công việc. “Dân chúng đồng lòng, việc gì cũng làm được. Dân chúng không ủng hộ, việc gì làm cũng không nên[9].

Người kêu gọi: “Mỗi cán bộ, đảng viên phải đặt lợi ích của cách mạng, của Đảng, của nhân dân lên trên hết, trước hết. Phải kiên quyết quét sạch chủ nghĩa cá nhân, nâng cao đạo đức cách mạng, bồi dưỡng tư tưởng tập thể, tinh thần đoàn kết, tính tổ chức và tính kỷ luật. Phải đi sâu đi sát thực tế, gần gũi quần chúng, thật sự tôn trọng và phát huy quyền làm chủ tập thể của nhân dân[10].

Trước khi đi gặp Cụ Các Mác, Cụ Lênin, Người căn dặn, sau khi cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước hoàn toàn thắng lợi, “trước tiên là chỉnh đốn lại Đảng, làm cho mỗi đảng viên, mỗi đoàn viên, mỗi chi bộ đều ra sức làm tròn nhiệm vụ Đảng giao phó cho mình, toàn tâm, toàn ý phục vụ nhân dân[11].

Kết luận: Tư tưởng Hồ Chí Minh ngày nay đã là di sản vô giá không chỉ của dân tộc Việt Nam, mà là của nhân loại. Trải qua mọi biến động thời cuộc, Tư tưởng Hồ Chí Minh càng chứng tỏ giá trị và sức sống mãnh liệt. Tư tưởng Hồ Chí Minh là sự kết tinh tinh hoa của dân tộc Việt Nam và trí tuệ của thời đại mãi mãi soi sáng cho cách mạng Việt Nam.

Ngày nay, sự nghiệp đổi mới ở nước ta đang đứng trước những thách thức to lớn từ bối cảnh quốc tế và trong nước, công tác lý luận của Đảng ta vì thế không phải không có những khó khăn nhất định, thì việc nghiên cứu, học tập, bảo vệ, vận dụng và phát triển Tư tưởng Hồ Chí Minh vào thực tế cuộc sống càng trở nên tối cần thiết và rất quan trọng. Đặc biệt, noi gương và làm theo nhà lý luận thiên tài Hồ Chí Minh là nhiệm vụ quan trọng, cấp bách trong công tác chính trị, tư tưởng, lý luận của toàn Đảng, toàn dân tộc ta ngày nay.



[1] Hồ Chí Minh toàn tập, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2000, tập 8, trang 227.

[2] Xem Sdd, Tập 4, trang 421.

[3] Xem Sdd, Tập 5, trang 185-186.

[4] Xem Sdd, Tập 11, trang 350.

[5] Xem Sdd, ,Tập 9, Trang 285.

[6] Xem Sdd, Tập 5, Trang 250.

[7] Xem Sdd, Tập 5, Trang 251-253.

[8] Xem Sdd, Tập 5, Trang 265-266.

[9] Xem Sdd, Tập 5, Trang 293.

[10] Xem Sđd,Tập 12, Trang 439.

[11] Xem Sđd,Tập 12, Trang 503.


Nhắn tin cho tác giả
Hoàng Ngọc Vĩnh @ 23:28 21/01/2010
Số lượt xem: 1380
Số lượt thích: 0 người
 
Gửi ý kiến