Chào mừng quý vị đến với Tư liệu giáo dục - Nguyễn Hữu Thanh.

Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tư liệu của Thư viện về máy tính của mình.
Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay ô bên phải.

Sáng kiến kinh nghiệm

Nhấn vào đây để tải về
Hiển thị toàn màn hình
Báo tài liệu có sai sót
Nhắn tin cho tác giả
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Đức Dũng (trang riêng)
Ngày gửi: 12h:49' 03-04-2008
Dung lượng: 81.0 KB
Số lượt tải: 1447
Số lượt thích: 0 người


MỤC LỤC

A. ĐẶT VẤN ĐỀ
1.Vị trí của văn tự sự trong môn Ngữ văn.
2. Lí do chọn đế tài.
3. Thực trạng vấn đề.
B. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ (Nội dung - cách làm mới)
1. Tìm hiểu đề (xác định yêu cầu của đề).
2. Viết đoạn văn trong văn bản tự sự.
3. Liên kết đoạn văn trong văn bản tự sự.
C. KẾT THÚC VẤN ĐỀ
1. Một số lưu ý
2. Kết quả
3. Lời kết
D. BÀI HỌC KINH NGHIỆM




















A. ĐẶT VẤN ĐỀ
1.Vị trí của văn tự sự trong môn Ngữ văn:
Trong nhà trường nói chung, trong trường THCS nói riêng, Ngữ văn là môn học trang bị cho học sinh những tri thức để đánh gia đúng các vấn đề văn học(bao gồm: tác phẩm, tác giả, các quá trình văn học . )có nghĩa là góp phần tạo cho học sinh khả năng khám phá vẻ đẹp của tác phẩm văn học trong việc tiếp nhận cũng như khả năng biết đánh giá đúng đắn, khoa học các hiện tượng.
Song song với nhiệm vụ trên là quá trình giúp học sinh hình thành và phát triển khả năng sản sinh văn bản mới ( nói và viết).
Làm văn là phân môn hướng tới nhiệm vụ thứ hai này. Nó giúp học sinh hình thành những kĩ năng cần thiết để làm đu?c bài văn. Người học sinh từ tiểu học đến trung học (kể cả vào đại học) đã và sẽ được làm văn theo ba d?ng sau đây:
Dạng sáng tác văn học như: miêu tả, tường thuật, kể chuyện ( tự sự) . và một số thể thơ quen thuộc như : thơ 5 chữ, thơ tứ tuyệt, thơ lục bát .
Dạng bài nghị luận với hai nội dung chủ yếu là nghị luận xã hội và nghị luận văn học ( trong chương trình ở THCS là ở lớp 7, 8, 9).
Dạng văn hành chính công vụ như: đơn từ, biên bản, thông báo, báo cáo, hợp đồng.
Đặc trưng cơ bản của nhóm thứ nhất là kích thích trí tưởng tượng phong phú, xây dựng óc quan sát tinh tế cho học sinh. Đặc trưng của nhóm thứ hai là nhằm hình thành và phát triển tư duy lí luận với khả năng lập luận chặt chẽ, giàu sức thuyết phục. Loại văn hành chính công vụ thì có đặc trưng là khuôn mẫu, công thức.
Trong nhà trường phổ thông, nhìn chung không đặt ra việc sáng tác văn học. Tuy nhiên để phù hợp với lứa tuổi học sinh THCS được làm quen với kiểu sáng tác, tạo tiền đề cho các em có thể vận dụng tốt trong quá trình học sau này.
Những bài văn hay loại này là những bài văn viết đúng quy cách, chân thật, có những khám phá hồn nhiên về thiên nhiên và đời sống gia đình, xã hội .
Trong chương trình Ngữ văn THCS, ở lớp 8 học sinh được học văn tự sự từ bài 1 đến bài 10 (chiếm gần 1/3 số bài trong chương trình). Tuy học sinh đã học văn tự sự từ lớp 6 (ở THCS) nhưng vì nhiều lí do nên các em làm loại văn này v?n chưa tốt.
Quan trọng là vậy nhưng là giáo viên dạy Ngữ văn, công tác tại trường THCS Lạc Hoà, tôi thấy các em làm bài văn tự sự chưa tốt, còn mắc nhiều lỗi mà nếu giáo viên có thể giúp học sinh khắc phục được thì các em s? lm t?t hon. Những hạn chế trong bài làm văn tự sự của các em một phần do các em, một phần do giáo viên chưa có biện pháp phù hợp giúp các em.
2. Lí do chọn đề tài:
Người giáo viên bao giờ cũng muốn học trò của mình làm được những bài văn hay nhưng đó không phải là một việc dễ. Bài văn hay trước hết phải là viết đúng ( đúng theo nghĩa tương đối, nghĩa là trong khuôn khổ nhà trường). Hay và đúng có mối quan hệ mật thiết với nhau. Bài văn hay trước hết phải viết theo đúng yêu cầu của đề bài, đúng những kiến thức cơ bản, hình thức trình bày đúng quy cách .
Xác định đúng yêu cầu của đề bài là rất cần thiết, bước này giúp học sinh thể hiện đúng chủ đề của bài văn, tránh lạc đề hay lệch đề. Xác định đúng yêu cầu của đề cũng giúp người viết lập được một dàn ý tốt và do đó cũng tránh được bệnh dài dòng, lan man "dây cà ra dây muống", " trống đánh xuôi, kèn thổi ngược" tạo được sự thống nhất, hài hoà giữa các phần của bài viết. Bên cạnh đó việc viết đúng kiến thức cơ bản cũng vô cùng quan trọng, kiến thức cơ bản là "bột", "có bột mới gột nên hồ".
Hình thức trình bày là sự thể hiện hình thức bố cục của bài văn trên trang giấy. Một bài văn đúng quy cách là bài văn mà khi nhìn vào tờ giấy, chưa cần đọc đã thấy rõ ba phần: Mở bài, thân bài và kết bài. Muốn thế người viết không chỉ phải chú ý đến nội dung mà hình thức cũng phải rõ.
Yêu cầu là vậy nhưng trong thực tế dạy - học tôi thấy bài văn của học sinh chưa đáp ứng được những yêu cầu đó là bao. Bài làm của các em vẫn còn hiện tượng lạc đề, lệch đề do không chú ý đến việc tìm hiểu đề. Đoạn văn trong bài thường sai quy cách. Bên cạnh đó là việc giữa các đoạn văn chưa có sự liên kết.
Do đó tôi thấy cần phải tìm tòi, nghiên cứu để tìm ra giải pháp tốt giúp học sinh làm tốt bài văn tự sự. Qua thời gian tìm tòi và vận dụng, cho đến nay tôi đã tìm được cho mình một cách làm mang lại hiệu quả cao. Trong cách làm đó vấn đề tích hợp có vai trò rất quan trọng. Đó cũng là yêu cầu của dạy học Ngữ văn hiện nay.
3. Thực trạng của vấn đề:
Về phía người giáo viên, trước đây khi dạy văn tự sự cho các em, tôi mới chỉ giúp các em nắm bắt được những nội dung cơ bản trong sách giáo khoa. Trong quá
trình dạy chỉ dạy văn tự sự ở những tiết học về văn tự sự, chưa tận dụng được thời gian ở các phân môn khác để tích hợp với phần tập làm văn. Đặc biệt chưa chú trọng luyện tập và ra bài tập về nhà cho các em để từ đó hình thành kĩ năng làm bài.
Về phía học sinh, do đời sống còn nhiều khó khăn, đa số các em phải lao động hàng ngày ở ngoài đồng ruộng nên ít có thời gian để đọc các tài liệu tham khảo, mở rộng hiểu biết.
Xa trung tâm, nhà trường lại chưa đủ cơ sở vật chất để phục vụ việc dạy học nên các em không có đủ tài liệu để tham khảo. Vì vậy chỉ có thể nắm bắt được những gì SGK cung cấp.
Học văn đòi hỏi viết nhiều (đọc nhiều)nhưng học sinh ở Lạc Hoà lại ít có điều kiện cũng như thời gian để luyện tập. Bên cạnh đó học sinh là người dân tộc Khơmer và dân tộc Hoa (vốn từ không phong phú do ít giao tiếp bằng tiếng phổ thông) kết hợp với những điều kiện trên làm cho các em nghèo nàn về vốn từ nên khi viết cũng thêm phần khó khăn.
Thêm vào đó, nhiều học sinh chưa chú ý đến việc học, ý thức chưa cao, về nhà không làm bài nên khi làm bài thường vụng về, lúng túng .
Với những khó khăn như vậy, mỗi giáo viên dạy Ngữ văn phải tìm biện pháp giúp học sinh nắm và làm tốt bài văn tự sự. Cũng chính từ sự băn khoăn, trăn trở: "Làm sao giúp học sinh làm tốt bài văn tự sự?". Qua quá trình dạy học, quá trình tìm tòi tôi đã có được những biện pháp giúp học sinh làm tốt bài văn tự sự trong chương trình Ngữ văn 8.
Trong những biện pháp đó, việc động viên khích lệ về tinh thần cũng như vật chất (điểm số) là rất quan trọng.
Sau đây tôi xin trình bày " Một số biện pháp giúp học sinh làm tốt bài văn tự sự trong chương trình Ngữ văn 8 (tập 1) ở trường THCS Lạc Hoà".
Những biện pháp này được áp dụng ở 2 lớp do tôi dạy, lớp 8A1 và 8A2.

B. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ (Nội dung - cách làm mới)
1. Tìm hiểu đề (xác định yêu cầu của đề):
Kĩ năng tìm hiểu đề là kĩ năng định hướng cho toàn bộ quá trình thực hiện một bài tập làm văn. Do đặc điểm tâm lí lứa tuổi chưa kiên nhẫn, học sinh thường không chú ý đến bước tìm hiểu đề. Vì vậy trong quá trình dạy tôi luôn hướng dẫn học sinh thực hiện thao tác này và nó được lặp đi lặp lại ở mỗi bài viết cung như trước các đề trong bài học.
Ví dụ: như ra đề rồi yêu cầu HS về nhà thực hiện, trước các bài viết số 1, số 2, trong các giờ học tự chọn Ngữ văn .
Để giúp học sinh tìm hiểu đề, trước một đề bài tôi thường yêu cầu học sinh đọc nhiều lần (thậm chí yêu cầu học sinh đọc thuộc đề), lấy bút chì gạch dưới những từ cần chú ý, chép lại đề với những ý có gạch đầu dòng để làm cho nổi bật các yêu cầu của đề.
Kết quả của bước tìm hiểu đề phải giúp học sinh xác định được tất cả các yêu cầu của đề bài:
- Kiểu bài: tự sự hay miêu tả, tường thuật hay giải thích, .
Lời yêu cầu về kiểu bài: theo lối trực tiếp - nói thẳng (như hãy kể . ) hay lời yêu cầu gián tiếp - nói vòng (như Em thấy mình đã khôn lớn . )
- Đề bài và giới hạn: học sinh cần tìm hiểu rõ qua từng từ ngữ để xác định giới hạn của đề bài. Chỉ một sơ suất nhỏ trong việc xác định giới hạn của đề bài cũng có thể dẫn các em từ tản mạn, xa đề đến lạc đề.
Ví dụ1 : cho đề bài: Em hãy kể lại một kỉ niệm sâu sắc thời thơ ấu.
Trước đề này có rất nhiều học sinh kể ra hai, ba kỉ niệm, không có kỉ niệm nào được kể một cách đầy đủ.
Ví dụ 2: cho đề bài: Cô giáo của em.
Trước đề này một số học sinh kể về cô giáo của mình ở hiện tại chứ không phải là kỉ niệm về một cô giáo mà mình tôn trọng nhất, yêu thương nhất hay một cô giáo mà mình không bao giờ quên.
Tìm hiểu đề là bước quan trọng, tuy nhiên trong chương trình học các em lại chỉ được học không đến một tiết (ở lớp 6). Thêm vào đó ở chương trình Ngữ văn 8 các em học văn tự sự chỉ trong 13 tiết nên thời gian không nhiều.
Để khắc p
Avatar
TVM thân tặng
Avatar

Xin gia nhập trang của thầy, chúc thầy nhiều sức khỏe!

Vươn ra khoảng không bao la. 

Avatar

TVM xin chào chủ nhà !!!

3279543

Avatar

LÀM THÀNH VIÊN CỦA NHAU ĐỂ HỌC HỎI VÀ GIAO LƯU NHÉ

 http://hahuyphu.violet.vn/

Thân tặng

 

Avatar
TVM xin chào! mong được làm quen và giao lưu cùng, rất vui mời chủ nhà ghé thăm http://ducorg.violet.vn
Avatar
Mến chào chủ nhà. Kính mời chủ nhà ghé thăm và ủng hộ cho http://violet.vn/thcs-nguyentrai-daklak/. Xin chân thành cảm ơn!!!
 
Gửi ý kiến